Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz

Jazz là thể loại nhạc rất nhiều người yêu thích nhưng hiếm ai hiểu rõ về nó. Jazz có ảnh hưởng rất lớn đến hầu hết các thể loại nhạc trong thế kỷ 20, từ rock, hip-hop đến nhạc La-tinh. Nắm được các kiến thức lý thú về Jazz không chỉ khiến bạn hiểu rõ hơn về nó mà còn phần nào khơi gợi những cảm xúc mới khi bạn nghe những thể loại nhạc mà mình yêu thích. Cùng Piano Sinh Viên tìm hiểu rõ hơn về nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz nhé!

Jazz Là Gì?

Jazz được khai sinh ở New Orleans vào khoảng cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, khi người Mỹ gốc Phi kết hợp văn hóa bản địa với các nhạc cụ Châu Âu, sau đó được lấy thêm cảm hứng từ cuộc sống hiện đại của Mỹ trong các khía cạnh đa dạng như phim ảnh, thể thao, âm nhạc, nghệ thuật, văn chương và chủng tộc.

Jazz đặc biệt vì sự đổi mới không ngừng của các nghệ sĩ xuyên suốt lịch sử của dòng nhạc này. Trải qua 100 năm, các nghệ sĩ không chỉ nỗ lực cách tân Jazz ở góc độ kỹ thuật nội tại mà còn đi tìm sự đổi mới bằng cách kết hợp những chất liệu nghệ thuật của các dòng nhạc khác. (Rock, Funk, World Music,…)

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 2

Một điều dễ nhận thấy nhất ở nhạc Jazz, ngay cả đối với người mới nghe Jazz chưa nhiều, đó là sự ngẫu hứng. Điều này giúp tạo nên sự mới lạ độc đáo tuyệt vời, dù đó chỉ là 1 tác phẩm được chơi lại nhiều lần. Các nghệ sỹ nhạc Jazz cũng luôn cố gắng kết hợp thật ăn ý để biểu diễn 1 cách trơn tru nhất. Không ngoa khi nói nhạc Jazz luôn mang đến sự bất ngờ cho người nghe, không giống với các dòng nhạc khác đôi khi bạn có thể đoán được các cao trào. Với Jazz, không có gì là cố định cả.

Các Thể Loại Nhạc Jazz (chia theo từng giai đoạn)

Nhạc Jazz cũng có nhiều phân nhánh (sub-genre) khác nhau. Chúng về cơ bản vẫn giữ nguyên kiểu thể hiện ngẫu hứng, chỉ khác nhau ở phong cách của từng thời kỳ trong lịch sử, cũng như xu hướng phát triển của xã hội. Dưới đây chúng ta sẽ cùng điểm qua các phân nhánh của Jazz để hiểu hơn về dòng nhạc tuyệt vời này.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 3

1. Blues (xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ 19 đến nay)

Tương tự như Jazz, Blues bắt đầu xuất hiện từ khoảng thế kỷ 19 và được ngân nga bởi những người nô lệ, và sau đó là nông dân, khi họ làm việc trên cánh đồng cháy nắng. Khi người Nam Mỹ học chơi các nhạc cụ châu Âu, cây guitar trở thành nhạc cụ thông dụng nhất. Người ta thường hát ngêu ngao mỗi khi rảnh rỗi với cây guitar, và thế là nhạc Blues ra đời. Phong cách chung của nhạc Blues là luôn đánh theo các quy cách nhất định, cũng như có đặc trưng riêng với nốt trầm gọi là “blue note”, mang đến cảm xúc buồn man mác khó tả.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 4

Lead Belly

Nhạc Blues phát triển song song với nhạc Jazz trong khoảng cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, và lúc đó các nghệ sỹ Jazz cũng thường sử dụng những đặc điểm của Blues để pha trộn vào phong cách Jazz của mình nhằm tạo nên sự mới lạ.

Các nghệ sỹ Jazz-Blues nổi bật có thể nhắc đến gồm W.C. Handy, Huddie “Lead Belly” Leadbetter hay Bessie Smith. Bạn cũng thử tìm nghe các tác phẩm như Where Did You Sleep Last Night (Lead Belly) hay St. Louis Blues (Bessie Smith) nhé.

2. Ragtime (khoảng 1895~1918)

Ragtime cũng là tiền thân của phong cách Jazz hiện nay, được chơi chủ yếu bằng piano tuy nhiên đôi khi cũng được thể hiện bởi các nhạc cụ khác nữa. Ragtime có cách thể hiện ngắn gọn súc tích, tạo ra sự độc đáo khó đoán trước. Các kỹ thuật piano Ragtime sau đó có ảnh hưởng rất lớn đến kỹ thuật chơi piano Jazz.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 5

Scott Joplin

Bạn có thể tìm kiếm các tác phẩm của Scott Joplin để thưởng thức phong cách piano Ragtime nguyên bản là như thế nào. Các tác phẩm nên nghe thử là Maple Leaf Rag hoặc The Entertainer.

3. New Orleans Jazz (khoảng từ 1900~1920)

New Orleans Jazz bắt nguồn từ phong cách chơi lạ lẫm của các ban nhạc mới xuất hiện thời đó ở New Orleans. Các nhạc cụ như cornet (giống kèn trumpet) được sử dụng thường xuyên trong New Orleans Jazz. New Orleans Jazz sau đó chịu ảnh hưởng của Ragtime (xuất hiện cùng thời nhưng được yêu thích hơn) và bắt đầu chuyển sang phong cách chơi tương tự. Nó chỉ khác biệt ở chỗ là đôi khi được điểm thêm 1 chút chất Blues.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 6

Jelly Roll Morton

New Orleans Jazz được thể hiện với tiếng đàn banjo, string bass, drums, piano và 1 số nhạc cụ cổ điển khác. Các ban nhạc New Orleans cũng chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ, và cũng không có các nghệ sỹ solo hay tác phẩm nào nổi bật, vì thế nó ít được biết đến hơn các phân nhánh khác. New Orleans Jazz chỉ được biết đến ở Mỹ sau khi chiếc máy hát phonograph được phát minh. Nhiều nghệ sỹ New Orleans Jazz sau đó cũng rời New Orleans đến Chicago trong đợt di cư Great Migration.

Bạn có thể tìm nghe Buddy Bolden, Joe “King” Oliver, Jelly Roll Morton hay The Original Dixieland Jass Band để nghe thử phong cách New Orleans Jazz. Các tác phẩm được nghe nhiều nhất có Dipper Mouth Blues (Joe “King” Oliver), King Porter Stomp hay Wolverine Blues (Jelly Roll Morton).

4. Chicago (khoảng những năm 1920)

Các ban nhạc Jazz ở Chicago có phong cách chơi khác biệt so với New Orleans khi thay thế đàn banjo bằng chiếc guitar, thêm saxophone và chuyển nhịp 4/4 về 2/4. Một đổi mới nữa là sự xuất hiện của phần solo.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 7

Louis Armstrong

Lão làng của Chicago Jazz không ai xa lạ chính là Louis Armstrong. Bạn đọc có thể tìm nghe thử 2 album được đánh giá rất cao của ông là The Hot 5s và The Hot 7s.

5. New York (cũng khoảng những năm 1920)

Phong trào Jazz ở Chicago lan tỏa đến New York và cũng được thêm vào những đổi mới độc đáo hơn, trong đó có phong cách stride-piano. New York Jazz cũng quy tụ nhiều ban nhạc với tầm cỡ lớn hơn và có đầu tư chất lượng hơn.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 8

Duke Ellington

Các tên tuổi nổi tiếng có thể nhắc đến như James P. Johnson và Duke Ellington. Một số bản hit nên nghe là The Charleston, Carolina Shout (James P. Johnson) hay Flaming Youth (Duke Ellington).

6. Swing / Big Band Era (khoảng từ năm 1930~1945)

Từ những năm 1930, nhạc Jazz rất được yêu thích bởi 1 số tầng lớp trung lưu người Mỹ do có sự kết nối sâu sắc với văn hóa Mỹ gốc Phi. Big Band Era ra đời với các ban nhạc có lượng nhạc công hùng hậu, bắt nguồn từ thời kỳ Great Depression khiến nhiều nhạc công Jazz mất việc và phải tập hợp lại thành những nhóm lớn để kiếm sống đồng thời theo đuổi niềm đam mê.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 9

Benny Goodman and His Orchestra

Khác với kiểu chơi nhanh gọn trước đó, các nhóm trong thời kỳ Big Band Era chơi nhạc 1 cách thoáng và “phiêu” hơn. Kiểu chơi này chính là nhạc Swing, 1 kiểu nhạc dance có ảnh hưởng đến nhiều phân nhánh nhạc dance xuất hiện sau nó (ví dụ Lindy Hop). Ngoài Jazz, các nhóm trong thời kỳ Big Band Era còn chơi theo tiêu chuẩn nhạc Mỹ, càng mang đến chất Jazz nhiều hơn nữa.

Các nhóm Big Band Era tan rã dần sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 do kinh tế bắt đầu phục hồi và việc duy trì nhóm lớn lúc đó sẽ tốn nhiều chi phí hơn. Nhạc Swing cũng rơi vào quên lãng.

Bạn có thể tìm hiểu thêm các tên tuổi như Fletcher Henderson, Benny Goodman, Count Basie, Duke Ellington và Cab Calloway. Các ca khúc nên nghe có It Don’t Mean a Thing (Duke Ellington), Sing Sing Sing (Benny Goodman) và Minnie the Moocher (Cab Calloway).

7. Jazz sau thời kỳ Big Band Era

Ngay từ khi mới xuất hiện, Jazz đã luôn nhắm đến mục tiêu trở thành dòng nhạc xu hướng. Điều này có nghĩa là nó phải khiến người nghe nhún nhảy theo, hay ít nhất là cũng phải nhịp chân hay gục gặc đầu. Tuy nhiên trong những năm 1940, nhạc Jazz đã chuyển sang 1 hướng đi mới. Thay vì sáng tác theo thị hiếu công chúng, các nghệ sỹ Jazz lúc này lại sáng tác theo những gì mình thích. Điều này vô tình giúp Jazz trở nên đa dạng hơn, không còn chỉ gói gọn ở 1 chủ đề hay phong cách đang ăn khách nữa.

Phong cách chơi Jazz bắt đầu trở nên trừu tượng, điều mà các nghệ sỹ và người yêu nhạc Jazz gọi chung là “sự ngẫu hứng”. Nhiều phong cách thử nghiệm mới bắt đầu xuất hiện, thành công có, mà thất bại cũng có. Nhạc Jazz thực sự chưa bao giờ phong phú đến vậy.

Trong thời kỳ này các nghệ sỹ cũng bắt đầu pha trộn các phong cách Jazz khác nhau để tạo ra hình thái cho riêng mình, cũng như các tác phẩm được sáng tác bằng cách “nhồi nhét” càng nhiều kiểu chơi nhạc cụ càng tốt. Nói chung từ thời điểm này khó có thể phân chia rõ ràng các nhánh con trong nhạc Jazz nữa.

8. Bebop (khoảng từ 1939~1950)

Bebop xuất hiện từ khoảng đầu những năm 1940, bắt đầu bằng việc giới nghệ sỹ trẻ cùng nhau tập luyện trong các jam-session, cùng lúc chơi chung và thử nghiệm các phong cách mới. Các nghệ sỹ phong cách bebop tận dụng lối chơi nhạc cụ theo từng lượt, đồng thời cũng chú trọng đến phần biểu diễn solo hơn. Phần tempo cũng được tăng lên khiến tiết tấu tác phẩm rất nhanh và có phần hơi “loạn”, trái ngược hẳn với kiểu nhún nhảy hay dance của thời Big Band Era.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 10

Dizzy Gillespie

Các nghệ sỹ nổi bật gồm Coleman Hawkins, Charlie Parker, Dizzy Gillespie, Thelonious Monk, Bud Powell, Max Roach. Tác phẩm nên nghe là Blue Monk, Round Midnight (Thelonious Monk), Night in Tunisia, Shaw ‘Nuff (Dizzy Gillespie, Charlie Parker).

9. Cool (trong khoảng năm 1949~1955)

Cool Jazz trái ngược hẳn với Bebop bằng tiết tấu thư giãn chứ hoàn toàn không gấp gáp làm người nghe hụt hơi. Các nhạc công giảm tiết tấu tác phẩm và chú trọng hơn vào giai điệu, đồng thời sử dụng thêm các nhạc cụ cổ điển. Cool Jazz có 1 thời gian còn được gọi là “West Coast Jazz”, tuy nhiên người quen nghe Jazz sẽ nhận ra ngay những điểm khác biệt giữa 2 phân nhánh này.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 11

Miles Davis

Các nghệ sỹ nên nghe gồm Miles Davis, Dave Brubeck, Gerry Mulligan hay Chet Baker. Ngoài ra bạn đọc cũng có thể tìm nghe thử Take Five (Dave Brubeck), Bernie’s Tune (Gerry Mulligan Quartet, Chet Baker) hoặc Birth of the Cool (Miles Davis).

10. Hard Bop (khoảng từ năm 1951~1958)

Trong giai đoạn này khá nhiều các nghệ sỹ Jazz cảm thấy rằng Cool Jazz nghe có vẻ quá cổ điển và đậm chất châu Âu, và thế là họ quyết định dung hợp lại phong cách Hard Bop vào nó. Hard Bop mang đến cho nhạc Jazz chất Blues nguyên bản, cộng thêm hơi hướm châu Phi. Phân nhánh này ngoài ra còn có 1 chút ảnh hưởng từ Gospel và Rhythm nữa.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 12

Art Blakey

Đông đảo nghệ sỹ nổi tiếng chọn hoặc chuyển sang phong cách Hard Bop như Miles Davis Quintet, Art Blakey, John Coltrane, Sonny Rollins hay Horace Silver. Một số tác phẩm nổi bật có thể nhắc đến gồm Moanin’ (Art Blakey), Nica’s Dream(Horace Silver), St. Thomas (Sonny Rollins), Giant Steps (John Coltrane).

11. Modal (khoảng cuối những năm 1950)

Trong khi các tác phẩm Bebop và Cool Jazz được sáng tác và chơi theo 1 quy tắc (progression) nhất định nào đó thì Modal Jazz lại dựa trên các mode, từ đó phần nào khiến tác phẩm dễ chơi và cũng dễ nghe hơn. Ngoài ra, các mode trong Modal Jazz cũng chuyển biến rất chậm rãi chứ không gấp gáp như Bebop hoặc ngay cả Cool Jazz. Nghệ sỹ Modal Jazz cũng chỉ phải nghĩ cách hòa trộn 7 nốt trong mỗi mode nên sẽ có thể giành nhiều thời gian hơn cho các sáng tạo ngẫu hứng.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 13

Miles Davis

Nối tiếng nhất với Modal Jazz vẫn là Miles Davis và John Coltrane. Impression (John Coltrane) là 1 tác phẩm cực kỳ đáng nghe.

12. Free Jazz (khoảng từ năm 1959~1970)

Các nghệ sỹ nhạc Jazz luôn luôn tìm cách “bứt phá” ra khỏi các rào cản âm nhạc, và Free Jazz chính là đỉnh điểm của mục tiêu đó. Thay vì sáng tác theo các khuôn khổ có sẵn, Free Jazz hoàn toàn dựa trên âm nhạc, nghĩa là chỉ cần nghe hay là được không cần đúng quy tắc gì cả. Free Jazz thường làm người nghe phải trầm trồ vì nó vượt qua tất cả những suy đoán của họ. Nó giống như sự trở lại của New Orleans Jazz – chất rượu tinh túy cũ trong 1 cái bình mới đẹp mắt hơn.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 14

Ornette Coleman

Phân nhánh này nổi bật có Ornette Coleman, Cecil Taylor, Charles Mingus và John Coltrane. Bạn đọc cũng nên nghe thử Lonely Woman (Ornette Coleman) hay Enter Evening (Cecil Taylor).

13. Fusion (khoảng từ năm 1969~1990)

Sau hơn 3 thập kỷ khám phá các giới hạn của phong cách âm nhạc cấp tiến, các nghệ sỹ Jazz của những năm 70′ bắt đầu mang nhạc Jazz đến tiếp cận với đại chúng bằng Fusion. Fusion là sự hòa trộn của Jazz với các thể loại nhạc phổ biến khác, chủ yếu là Rock và Funk. Về trình bày, Fusion Jazz kết hợp sức mạnh, âm điệu và sự đơn giản của Rock’n’Roll với sự ngẫu hứng tinh tế sẵn có của nhạc Jazz. Các thiết bị điện tử của nhạc Rock và Funk cũng mang đến cho Jazz 1 âm thanh hoàn toàn mới.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 15

Herbie Hancock

Nhiều nhà phê bình âm nhạc và người nghe chuyên nghiệp cho rằng Fusion Jazz chỉ là 1 thể loại “ăn theo”, không phải Jazz mà cũng chẳng phải thứ mà nó đang kết hợp. Tuy nhiên không thể phủ nhận 1 điều rằng chính Fusion Jazz đã giúp nhạc Jazz được nhiều người biết đến hơn, trong đó có giới trẻ đã quen nghe các dòng nhạc thị trường.

Các nghệ sỹ đáng chú ý gồm có Miles Davis, Weather Report, Herbie Hancock, Chick Corea và Freddie Hubbard. Các ca khúc nên nghe gồm Bitches Brew (Miles Davis), Birdland (Weather Report), Chameleon (Herbie Hancock), Mr. Clean (Freddie Hubbard).

Nghệ Thuật Ứng Tấu Là Gì?

Mọi bản nhạc Jazz mà bạn nghe sẽ đều bao gồm một phần solo ứng tấu mà trong đó, người nghệ sĩ chơi các giai điệu nảy ra trong đầu mình ngay tại khoảnh khắc trình diễn. Phần ứng tấu này phản ánh sự sáng tạo, kỹ thuật của người nghệ sĩ thông qua tập luyện, sự tương tác của các nhạc cụ trong band và cả cảm xúc của người nghệ sĩ tại khoảnh khắc biểu diễn. Nghệ sĩ chơi những giai điệu tức thời ngay lúc biểu diễn và mỗi nốt nhạc đều phản ánh cảm xúc và sự sáng tạo, mà tất nhiên, là kết quả của sự luyện tập kỉ luật, cảm hứng âm nhạc và phong cách cá nhân của nghệ sĩ ấy.

Nhạc Jazz và nghệ thuật ứng tấu trong Jazz ảnh 1

Ứng tấu không chỉ đòi hỏi kỹ thuật điêu luyện mà nghệ sĩ còn phải có khả năng lắng nghe và thể hiện được cảm xúc của bản thân ngay tại khoảnh khắc biểu diễn. Chính vì vậy, ứng tấu trong Jazz rất tự nhiên và sáng tạo, thể hiện phong cách mỗi nghệ sĩ khác nhau.

Logo
Reset Password